Thăm dò ý kiến
Theo bạn, Trang thông tin điện tử tỉnh ủy Hòa Bình có cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động của tỉnh ủy không?


Mã xác nhận

FE_View_Detail

Nghiên cứu, trao đổi: Giá trị và bài học từ Mo Mường
Điều khác biệt của dân tộc Mường với các dân tộc khác trong đám tang là có hàng nghìn, hàng vạn câu mo được ông mo xướng lên để tiễn biệt người ra đi. Bản trường ca ấy được gọi là Mo Mường. Mo Mường tồn tại qua nghìn năm có lẻ bởi nhiều giá trị to lớn. Các giá trị văn hóa  của người Mường tập trung ở Mo Mường.
Giá trị đầu tiên nổi bật của Mo Mường là giá trị sử thi. Nếu không có tính sử thi sẽ chắc không ai còn nói đến Mo Mường. Gần đây có nhà nghiên cứu đã tách bạch hai nội dung: Đâu là sử thi, đâu là tâm linh, phong tục trong Mo Mường. Theo đó, sử thi trong Mo Mường chính là những nội dung có liên quan đến lịch sử dân tộc và nhân loại. Theo đó, người Mường - Việt cổ từ thời Lạc Việt đến thời Văn Lang có một bộ sử thi đồ sộ mang tầm nhân loại. Khi đạo Khổng Mạnh du nhập vào nước ta qua nghìn năm Bắc thuộc, Thánh đã lấn át Thần, sử thi đã không còn tồn tại. Muốn tồn tại, sử thi phải hóa thân vào trong mo. Mặt khác, các ông mo muốn bài mo của mình trở nên thiêng liêng, đã lồng nội dung sử thi vào trong đó. Một hiện tượng cộng sinh thú vị. Từ chuyện Đẻ Đất Đẻ Nước, đẻ người, từ lúc còn ăn lông ở lỗ đến khi tìm ra lửa, tơ tằm, lúa gạo, làm nhà, có gia đình, biết  chế tạo công cụ đồng làm nồi xanh, xây cung điện, nước lụt nước cạn…Đều là những sự thật lịch sử được phản ánh trong Mo Mường. Nhân vật tìm ra lửa không cao lớn như thần Prô mê tê có sức chống trời mà  là Ruồi trâu, mang tính ẩn dụ ám chỉ những con người lao động bình thường bé nhỏ. Tìm ra nhiều giống lúa nuôi sống con người lại là anh Chuột. Có thể nói giá trị của Mo Mường chính là ở giá trị sử thi.

Bên cạnh giá trị sử thi, Mo Mường còn có giá trị về tâm linh, phong tục. Người Mường quan niệm chết không  phải là đã hết. Thân xác mất nhưng linh hồn sang thế giới khác ở mường ma tối tăm, cũng có một xã hội tương tự như bên mường sáng, cũng làm ăn, sinh sống như bên mường người. Bước đầu linh hồn còn lạ lẫm. Nhờ ông mo dẫn dắt, chỉ bảo, hồn mới biết ăn uống, nhận biết anh em họ hàng, nhận ruộng nương, vườn tược, giống má, nhà cửa… Thuộc đường đi lối về, làm ma hiền để bênh vực rào trông, phù hộ độ trì cho con cháu. Ngược lại linh hồn cha mẹ trước lúc chia xa, qua lời ông mo căn dặn con cháu những điều hơn lẽ thiệt, sống ở cõi người sao cho phải đạo trong phần Mo tắi mo li̒a (Mo dạy mo lìa). Giá trị lời căn dặn tăng lên nhiều lần vì đó là lời cuối (mo cuổi). Ông bà, cha mẹ mất dặn lại con cháu phải luôn biết thương yêu, quý trọng mọi người; anh chị em trong nhà luôn biết yêu thương, nhường nhịn, cảm thông, tha thứ… Song không chỉ những lời căn dặn trong phần Mo tắi mo li̒a (Mo dạy mo lìa) mới là nhân đạo mà nhân đạo đã trở thành một quan niệm sống, một tư tưởng lớn chi phối toàn bộ Mo Mường, thể hiện từ trong bản thân Mo Mường. Chết không phải là đã hết cũng là một quan niệm nhân đạo. Lấy vợ cho Tá Cần để duy trì nòi giống là một hành trình đầy gian nan. Mang hàng trăm báu vật làm lễ hỏi nàng tiên trên trời, dưới thủy cung đều không được, cuối cùng Tá Cần phải lấy nàng Dạ Kịt là em gái làm vợ. Chi tiết này phản ánh chế độ quần hôn nguyên thủy. Điều này phạm luật trời. Vua trời sai thần sét xuống trị tội. Nhưng thần sét đã không giáng thẳng vào Tá Cần - Dạ Kịt mà giáng vào bum boỏng (bậu cửa), làm vỡ toang bậu cửa nhà Tá Cần. Chi tiết này theo nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi, nói lên lòng nhân đạo vĩ đại của người Mường. Dân tộc ta vốn giàu lòng nhân ái, thương người như thể thương thân. Từ truyền thống tốt đẹp sâu xa của dân tộc, Lê Lợi gốc người Mường Thanh Hóa, cùng quân sư Nguyễn Trãi lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi giặc Minh hung tàn bạo ngược. Nhưng khi giặc đã bó giáp quy hàng, chúng đáng tội chết nhưng ta mở đường hiếu sinh, cấp cho lương thực, thuyền bè để chúng quay đầu về nước. Ta nhân đạo để đổi lấy muôn thuở thái bình. Truyền thống ấy còn được phát huy cao độ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Sử thi Mo Mường đã cho chúng ta biết giá trị của lao động sáng tạo. Con người muốn tồn tại và phát triển phải có quá trình lao động sáng tạo để nuôi sống mình và phát triển xã hội. Thuổ ban đầu con người sống lệ thuộc vào thiên nhiên. Có lẽ do quá trình quan sát thiên nhiên, bắt chước và tác động vào thiên nhiên nên con người đã làm ra lửa. Mo Mường đã nói rõ việc này. Quá trình lên xin lửa ở mường Trời là công của anh Mul Moo̒ng (Ruồi trâu). Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải, khác với thần Prometheus cao lớn, ăn trộm lửa của trời mang xuống cho nhân loại, Mul Moo̒ng (Ruồi trâu) là nhân vật ẩn dụ, ám chỉ những người lao động bé nhỏ nhưng thông minh, nhạy bén, khéo léo. Tuy lên mường Trời không mang được lửa về (bị đổ nước làm tắt lửa dọc đường), nhưng Ruồi trâu đã nắm được mẹo (phương pháp) làm ra lửa và mách cho con người (Sử thi ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC, một cách tiếp cận, tr 209, Cao Sơn Hải). Từ đó con người:

“Pắt tlo̒ tho nhuô̭i

Tém tang la̒ na̭c, bác lảw la̒ nhui

Kẻw xui ti xui la̭i

La̒ dêênh kủi chắl ngo̭i ngo̭i, khói păl ngu ngu̒”.

(Bắt chước, đo cây

Chẻ dang làm nòm, chẻ nứa làm mồi

Kéo xui đi xui lại

Làm nên ngọn lửa sáng chói, khói bay nghi ngút).

Nếu làm ra lửa giúp sự chuyển biến từ thời kỳ vượn người chuyển sang thời kỳ người thì biết trồng lúa nước cũng là một bước tiến lớn, đã giúp con người thoát khỏi thời kỳ hái lượm.  Tương tự như trên, nhân vật ẩn dụ là “ chí Hê̒ zâ̒m Hê̒ wa̒ng” (anh Chuột đen Chuột vàng) đã tìm giúp được “ pổn mươl tởng lo̭ na̒, pa mươl tởng lo̭ lôốc lo̭ hoo̭ng” (Bốn mươi giống lúa ruộng, ba mươi giống lúa rẫy lúa nương). Rồi con người sau đó:

Tách tlu zâ̒m ti pươ̒ ko̭n ngoo̭c

  Tách tlu loo̭c ti pươ̒ ko̭n khoang

  Po̒ wa̒ng pươ̒ dôl pươ̒ ko̭l

(Dắt trâu đen đi bừa ruộng đầu nước

  Dắt trâu trắng đi bừa ruộng hoang

  Bò vàng bừa chỗ cao chỗ thấp).

Nhờ lao động cần cù sáng tạo mà nhà nhà có bát ăn bát để, cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy. Nên khi chia lìa, cha mẹ dặn con:

Đổ pâ̭w kwa̭c pươ̒, kon ho fái kwa̭c pươ̒

Đổ pâ̭w kwa̭c kă̒l, kon ho fái kwa̭c kă̒l

Chớ la̒ tlo̒ foong lưw ớ lới

Ớ lới nả hăi tơ̭i tól lă̒ng

Bất kải tlu ti muô i chăng ản lo̭”.

Bất kải po̒ ti muô i chăng ản ma̭”.

(Thấy người ta vác bừa, con ta phải vác bừa

Thấy người ta vác cày, con ta phải vác cày

Chớ làm trò phong lưu, trác táng

Biếng nhác nó hay đợi đói nghèo.

Mất con trâu đi mua không được lúa

Mất con bò đi mua không được mạ”.

Nói cho cùng, con người sinh ra từ thiên nhiên, là sinh vật cao cấp nhất trong ngôi nhà chung là trái đất. Con người sẽ sống với ai nếu như không có cây cỏ, chim trời, cá nước và biết bao loài nơi rừng rậm, núi cao, biển lớn. Vì thế yêu thiên nhiên, tôn thờ và quý trọng thiên nhiên phải là lẽ sống của con người từ buổi sơ khai đến giờ. Mo Mường kể rằng: Mẹ thiên nhiên sinh ra chim Ân kái Ướ, (chim Ân cái Ưá), một giống chim trời. Chim trời đẻ ra Tlởng Tiểng (Trứng Tiếng). Nhờ chim Déw ha̭ (chiển chiện) ấp mà từ Trứng Tiếng sinh ra các dân tộc Kinh, Mường, Thái, Mán, Lào… Cũng như nhiều dân tộc khác, người Mường quan niệm vạn vật hữu linh, mọi sự vật trong thiên nhiên đều có linh hồn. Các hiện tượng thiên nhiên đều được gọi là các vị thần: thần đất, thần trời, thần mây, thần mưa, thần sấm, thần sét, thần gió, thần nước, thần sông, thần núi, thần rừng… Cây, cỏ, lúa, ngô, khoai, sắn… cũng có hồn có vía. Người Mường quan niệm cây si là cây vũ trụ, cây thần, là cây được nói đến đầu tiên trong Đẻ đất Đẻ Nước. Nếu vật tổ của con người là một loài chim ( chim Ân cái Ưá đẻ ra Trứng Tiếng) thì vía của con người là cây si. Mỗi con người sống tương ứng với một nhành si ở trên trời do thần vía nhà trời giữ. Khi con người khỏe mạnh, nhành si tươi tốt. Khi con người ốm yếu, nhành si lay gốc, úa tàn, héo hon. Vì thế khi người già ốm yếu, phải làm lễ vía kéo si cho thẳng gốc lại thì người già mới khỏi ốm.

Mo Mường cũng từng kể những chấn động vĩ đại, những cơn giận dữ kinh hoàng của thiên nhiên suýt nhấn chìm cả loài người. Theo truyền thuyết, Mường Bi xưa là một rừng cây bi, thế mà nước lụt đến mức ngấp nghé đỉnh cả hai ngọn núi cao nhất:

Khṷ Chu̒ ko̒n nẩng lả pái

  Khṷ Kải ko̒n nẩng lả lăw

(Núi Chù còn bằng lá bái

Núi Cái còn bằng lá lau).

Chỉ còn hai người, một đàn ông và một đàn bà may mắn sống sót nhờ trèo lên ngọn cây bi cao nhất. Và họ đã tái sinh loài người. Sống nhờ cây bi, khi chết về lòng đất mẹ cũng được bao bọc bởi cây bi. Là gỗ tạp nhưng cây bi được chọn là tốt nhất để làm quan tài (nhất bi nhì hả) có lẽ vì lý do trên. Do sống hòa mình vào thiên nhiên, tôn thờ và quý trọng thiên nhiên nên con người biết lắng nghe tiếng nói từ thiên nhiên. Tá Cần đi phát rẫy, bắt được chị Rùa gầy định giết thịt.  Chị Rùa cúi lạy van xin Tá Cần đừng giết, hãy nới dần dây trói sẽ nói điều quan trọng. Khi được mở trói, chị  Rùa bày cho Tá Cần cứ nhìn vào thân thể Rùa tôi sẽ làm nên nhà ở. Từ đó người Mường có ngôi nhà sàn xinh sắn. Hai người đi săn nơi rừng sâu, khuya phải ngủ lại dưới gốc cây, tình cờ nghe tiếng chim kêu vượn hót rằng nơi rừng sâu núi thẳm có người trồng được bốn mươi giống lúa ruộng, ba mươi giống lúa rẫy lúa nương. Hai người về mách với Tá Cần. Tá Cần sai anh Chuột vào nơi rừng sâu núi thẳm xin được bốn mươi giống lúa ruộng, ba mươi giống lúa rẫy lúa nương như câu chuyện đã nói trên. Từ đó bản làng no ấm. Đến thời vua Dịt Dàng, nhờ anh Rùa mách cho biết trước sắp có mưa to gió lớn, lụt lội đến trời mà vua đã chủ động loan tin khắp thiên hạ, chuẩn bị thuyền bè, ná nỏ… để đối phó bão lụt. Bài học về yêu quý, tôn thờ, bảo vệ và biết lắng nghe tiếng nói từ thiên nhiên luôn là bài học sâu sắc của con người. Nhất là trong thời đại ngày nay khi tài nguyên dần cạn kiệt, những tai ương, dịch bệnh đang hoằnh hành dữ dội và đầy bất trắc...

Ngày nay trên khắp chiều dài đất nước, người Mường sống hòa chung với hầu hết các dân tộc anh em. Nhưng từ Cách mạng tháng Tám trở về trước, trên dải đất miền Tây Bắc, người Mường cộng cư chính với người Kinh và người Thái. Quá trình chung sống để lại bài học về sự học tập và giao lưu với các dân tộc anh em này. Mo Mường kể một câu chuyện thú vị, về sự hoán đổi địa bàn sinh sống giữa người Mường và người Kinh như sau:

Khâi hơ kon Chơ̭ lêênh ớ nha̒ gác

Kon Mo̭l thuổng ớ tỉn dác nha̒ thiê̒n, nha̒ pe̒.

Kon Mo̭l chăng hăi la̒ dêênh ki̒m

Chăng hăi la̒ dêênh kim

Chăng hăi la̒ dêênh ke̒w

Chăng hăi la̒ dêênh ti̭t, dêênh to̭i, bẳm dêênh bỏi…

Lả lảw ma̭ tảnh xảw lả lăw

Ma̭ săw tất săw dác

Ma̭ tổi cho kon Mo̭l lêênh ớ nha̒ gác

Kon Chơ̭ thuổng ớ tỉn dác nha̒ thiê̒n, nha̒ pe̒.

Kon Chơ̭ hăi la̒ dêênh ki̒m

Kon Chơ̭ hăi la̒ dêênh kim

Kon Chơ̭ hăi la̒ dêênh ke̒w

La̒ dêênh ti̭t, to̭i, bẳm, bói

La̒ dêênh bâm khon, pát khứ

Tiḙ̂ chư̭ diê̒ ngô, dô̒ ăn kơm oỏng ha̭w

Nả zoong tha paảnh ớ chơ̭ Ha̭t pển Tôông.”

(Ngày xưa người Kinh lên ở ngà gác

Người Mường xuống ở dưới nước, nhà thuyền nhà bè

Người Mường không biết làm nên kìm

Người Mường không biết làm nên kim

Người Mường không biết làm nên kéo

Không biết làm bát, đĩa, mắm, muối…

Lá nứa đánh phứa lá lau

Vật đổi, sao dời

Đổi cho người Mường lên ở ngà gác

Người Kinh xuống ở dưới nước, nhà thuyền nhà bè

Người Kinh biết làm kìm

Người Kinh biết làm kim

Người Kinh biết làm kéo

Làm nên bát, đĩa, mắm, muối

Làm nên mâm son, bát sứ

Các thứ đựng đồ ăn cơm, uống rượu

Họ mang ra bán ở chợ Hạt, bến Đông).

Có sự hoán đổi trên hay không, cần có sự nghiên cứu công phu của các nhà khoa học mới có câu trả lời thoả đáng. Có điều có thể khẳng định chắc chắn là Mo Mường đã nói rất hay. Và qua cách nói hay ho đó, hé lộ một phần nào sự thật lịch sử: Vào thời kỳ từ Lạc Việt đến Văn Lang, một bộ phận dân cư ở miền núi đã di chuyển xuống và chiếm lĩnh vùng đồng bằng châu thổ ven biển Bắc Bộ. Họ dần tách biệt với người Mường – Việt cổ và trở thành người Kinh. Bộ phận ở lại miền núi là người Mường. Người Kinh ở đồng bằng ven biển do tiếp xúc với nhiều bộ lạc khác nhau trong khu vực, đã có sự giao thoa và học tập sáng tạo các nền văn minh láng giềng, biết làm ra các sản phẩm công nghệ như đã nói trên.

Nếu như người Thái học mo của người Mường để làm phong phú cho kho tàng văn hóa của mình thì người Mường cũng tiếp thu kỹ thuật làm ruộng nước của người Thái. Điều này dễ hiểu thôi : Mo Then của người Thái rất tương đồng với mo lên trời của người Mường mà Mo Mường đã có từ hàng nghìn năm. Còn các từ chiê̒ng, lang, ta̭w, na̒, ko̭n, ko̭n na̒ (chiềng, lang, tạo, nà, cọn, cọn nà) (chiềng, lang, tạo, ruộng, thửa – guồng quay nước, thửa ruộng) là người Mường mượn người Thái vì khu vực người Thái ở suốt từ Hoa Nam trải khắp vùng Đông Nam Á đều có những từ này. Làm ruộng đều phải theo kinh nghiệm chung “ Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Quản lý của Phìa Tạo và Lang Đạo về đồng ruộng chủ yếu là quản lý mương phai. Mo Mường kể rằng: Mường Bi xa xưa là vùng đất hoang, dần dần dược con người khai phá. Những người có công đầu khai phá đó được tôn thờ là những Thành Hoàng làng. Lang Cun Mường Bi đã thuê hai người Thái là Ại Lý, Ại Lo đào mương Lò, một con mương nối suối Kem đầu nguồn nước, mương vắt qua đồi Lò, dẫn nước vào đồng Nóng. Từ đồng Nóng nước chảy xuôi về tưới tiêu khắp cánh đồng mường Bi xanh tốt. Hai người Thái được trả công bằng hai gánh bạc mang về. Một sự đầu tư thông minh và hiệu quả bằng sự no ấm của Mường ngót nghìn năm qua. Khác với những đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp như ta thường thấy.

Còn rất nhiều những bài học có thể rút ra từ Mo Mường, song thiết nghĩ cần nói đến bài học về thực hiện lẽ công bằng ở trên đời. Tá Tèn Tá Tẹc là người có công giúp vua Dịt Dàng tìm ra cây chu đồng ở đồi Lai Li Lổ Láng (Bá Thước, Thanh Hóa ngày nay). Tá Tèn Tá Tẹc hy sinh thân mình khi cây chu đồng đổ xuống và người ta cũng phải dùng thân xác ngài làm nạng, làm nê, làm kê, làm đòn bẩy mới kéo đẩy được chu đồng về đến Kinh Kỳ Kẻ chợ. Ấy thế mà khi dựng xong nhà chu đồng xừng xững, vua trọng thưởng công trạng và mở tiệc lớn ăn mừng:

“Tlôốc hôm nảng tlu mươ̒l pổn ăn khaw

Lảng zaw nảng tlu mươ̒l pa ăn iến”

(Đầu hôm thịt trâu mười bốn ăn khao

Mai ra thịt trâu mười ba ăn yến)

Đã không có lời nào nhắc đến ngài. Gia đình và con ngài là Cun Tre Vè Tróng cũng không được hưởng công người đã hy sinh và thậm chí không được đoái hoài:

Ún eenh Kun Tle We̒ Tloỏng

Chăng thướng cho ná tâ̭c ta̭ng, tâ̭c tu̒n

Chăng cho ná phâ̒n na̒ eenh Kun ún Ta̭w

Chăng ản ăn kơm ngô̒i boỏng, oỏng ha̭w ngô̒i tlêênh

Chăng dơ̒ng lêênh la̒ chí la̒ bác

Tu̒i kủi dố nẻm kwa

Tu̒i ka dố nẻm kwắt

Mă̭t nả dố mé meḙnh chăng ản ăn”

(Anh em Cun Tre Vè Tróng

Không được thưởng trâu trắng, trâu lùn

Không được hưởng ruộng phần anh Cun, em Tạo

Ăn cơm uống rượu không được ngồi trên

Không được gọi tôn lên là anh là bác

Đùi lợn thấy ném qua

Đùi gà thấy ném quắt

Mắt thấy nhưng miệng không được ăn)

Trong cơn giận dữ và tủi nhục đến cùng cực, lại có người xúi giục, bày mưu, Cun Tre Vè Tróng liền:

Lḙ̂ twă̒nh kủi puô̭c paw tuôi kái wo̭c

Lḙ̂ twă̒nh thoóc puô̭c paw tuôi kái me̒w

(Lấy mồi lửa buộc vào đuôi con khỉ

Lấy mồi rơm buộc vào đuôi con mèo)

Và châm lửa đốt. Thấy nóng rát ở đuôi, khỉ và mèo hốt hoảng chạy vào nhà chu đồng, thiêu cháy trụi cả nhà chu đồng - cung điện vua Dịt Dàng. Thành quả lao động to lớn của cả nước bỗng chốc hóa thành tro bụi. Cuộc chạy trốn của Cun Tre Vè Tróng lại dẫn đến cuộc chiến tranh giữa vua  Dịt Dàng và Cun U lang Khanh (vùng Lai Châu, Sơn La ngày nay). Như vậy vì một lý do nào đó mà bỏ sót người có công là một thỉếu sót lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. Trọng thưởng người có công là thực hiện lẽ công bằng xã hội, đã để lại bài học từ buổi đầu dựng nước.

Mo Mường rất cổ xưa, mới thoáng nghe dễ ngộ nhận là có vẻ tầm phào nhưng những vấn đề mà Mo Mường phản ánh cùng tư duy và tư tưởng mang tầm nhân loại. Qua ký ức thời gian đậm chất sử thi với màu sắc huyền thoại dưới nhiều góc độ, Mo Mường là tập đại thành của người Mường. Ngoài những giá trị trên, Mo Mường còn có các giá trị khác về tư tưởng triết học, nghệ thuật biểu diễn, ngôn ngữ thể hiện… mà bài viết này chưa có điều kiện đề cập tới. Nhiều giá trị của Mo Mường còn sống mãi với thời gian mà người muôn đời sau còn phải ngẫm nghĩ đề rút ra bài học to lớn cho mình và thời đại mình đang sống.

Bùi Văn Nợi

(Xã Phong Phú, huyện Tân Lạc)


in Quay trở lại
thông báo
Hòa Bình 20 năm một chặn đường
Dự báo thời tiết
Thành phố:

27oC

Độ ẩm: 84%

Tốc độ gió: 8 km/hkm/h

Cập nhật lúc 05:30:00
ngày 2022-07-03