Thăm dò ý kiến
Theo bạn, Trang thông tin điện tử tỉnh ủy Hòa Bình có cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động của tỉnh ủy không?


Mã xác nhận

FE_View_Detail

Lễ Khai hạ xưa và nay ở Mường Bi
Cùng tên gọi và gần như cùng thời gian với Lễ Khai hạ của người Việt là Lễ Khai hạ của người Mường ở Mường Bi.
 

Vào ngày 7 tháng giêng âm lịch, người Việt tổ chức lễ cúng trời đất, hạ cây nêu, rồi sau đó nhân dân bắt đầu làm các công việc bình thường. Ngày 8 tháng giêng (tức ngày 7 tháng tư lịch Mường Bi), người Mường Bi tổ chức lễ cúng vua tổ, cúng Thánh Tản Viên Ba Vì và cúng Thành hoàng, sau đó nhân dân mới ra đồng làm việc.

Mỗi làng có một miếu thờ nhỏ và làm lễ cúng Thành hoàng riêng. Miếu thờ chung nằm trên đất xóm Lũy Ải, xã Phong Phú , huyện Tân Lạc ( ngày xưa do lang Cun Bi tổ chức, nay do UBND xã Phong Phú và UBND huyện Tân Lạc tổ chức). Xưa kia, dưới quyền cai trị trực tiếp của lang Cun Bi, bốn xóm trong xã là xóm Lầm, xóm Ải, xóm Lũy, xóm Đóng thực hiện lễ này. Để chuẩn bị cho lễ Khai hạ, Cai Cả chuyên lo các công việc lang Cun cho họp bàn và phân công công việc. Các công việc đã được “chuyên môn” hóa, do các cai, các ậu đảm trách, gắn với quyền lợi là các phần ruộng được hưởng tương ứng. Cai hầu chuyên lo việc săn thú, đánh cá tập trung đội săn bắn, tổ chức đi săn để kiếm được con hươu, con nai hoặc con hoãng. Săn được rồi đem treo con thú ở ngoài miếu thờ qua đêm. Dĩ nhiên là không lo mất vì miếu thờ rất linh thiêng, bình thường không ai dám đến, hổ báo cũng chỉ lượn quanh mà thôi. Trường hợp nếu đi săn không may thì sáng mai dắt con bò ra làm lễ tế thay cho con thú. Cai hầu đã có sẵn một chuồng bò để phòng bị cho phương án này. Phải là con vật có bộ lông màu vàng các thần linh mới phù hộ. Ậu chấu là  người lo việc cho dân phát quang, dãy cỏ từ đường làng vào đến miếu. Ậu huyền, một chức dịch chuyên lo việc cày bừa, ngâm mạ, vãi mạ trên ruộng lang (na̒ no̭) lo mâm cơm và lễ thờ ngày khai hạ. Thầy (tlươ̭ng) chuyên cúng ngày khai hạ là ậu mo cổ Chiềng Lầm, làng ngự trị từ lâu đời của Cun Bi.

Tinh mơ, Cai hầu đánh ba hồi chiêng, vác súng ra đồng, chất một đống củi to rồi đốt lên cho thật sáng. Các cai, các ậu khác gióng trống ba tiếng một biểu dương lực lượng ra miếu thờ. Dân các làng trên cùng góp gạo, rượu làm lễ dâng hương. Đặt thờ bảy bát cơm tẻ: Hai bàn ở gian ngoài mỗi bàn hai bát và một bàn ở gian trong đặt ba bát. Dưới mỗi bàn là sáu mâm quân lính hầu. Thịt con vật, làm thật sạch sẽ, bày  trên lá chuối ra các mâm thờ. Cũng như các nghi lễ khác, cách bày mâm thịt là luộc chín thái nhỏ, xếp hình vòng tròn trên lá chuối sao cho đầy đủ các bộ phận con vật. Cây chuối non thái mỏng theo chiều ngang thật mịn cho vào nước canh cũng được múc ra mâm. Hương thắp lên rồi thầy (tlươ̭ng) cúng lạy:

Đức vì vua cả, Ba Vì vua non, vua con Thái hậu, ở đền thượng xứ Hông. Vua mệ Hoàng bà, vua cả vua hai, cun cháu chàng kem, kem cai hài cán ở đền hạ xứ Khanh, ở trong đền rậm, đền lào, đền cao núi cả, núi Thánh Tản Viên Ba Vì. Thành Hoàng: Nhắc đến tên cụ thể vị có công khai phá Mường Bi (mươ̒ng Pi). Tên tuổi ấy chỉ có thầy (tlươ̭ng) chuyên cúng ngày khai hạ là ậu mo cổ Chiềng Lầm mới biết, được thầy lưu giữ bí mật, chỉ lúc làm lễ mới dám nhắc đến nên đến nay gần như bị thất truyền. Trong lời cúng, thầy  (tlươ̭ng) thay mặt cho mường cầu mong các đấng thần linh bênh vực rào trông (pêênh paw ha̒w pắi) để có mưa nắng thuận hòa, nước nôi đầy ắp mương phai, đủ để cày bừa. Con người mạnh khỏe từ trẻ đến già. Trâu bò không bị dịch bệnh, không bị sa hố, lăn thác, luôn làm bạn với người. Mùa mạ tốt tươi, đuôi lúa bằng bông kê, cả dưới nước lẫn trên cạn. Hai vụ chiêm mùa thu hoạch đầy sân đầy nhà. Khắp mường khắp bản vui tươi no ấm…

Sau lễ dâng ăn, để đoán biết lời cúng có linh nghiệm, thầy  (tlươ̭ng) gieo quẻ bói. Bói bằng túm xương gà là cách bói hiệu nghiệm nhất. Xuất xứ như sau: Nhà lang Cun Bi từ nhiều đời trước đóng ở mường (làng) Ngau, thuộc xã Phú Vinh, thuộc bắc Mường Bi. Ông lang Thường Ban đi săn khỉ (woo̭c) núi Khướng. Trên núi có con khỉ biết thách “đố bắn trúng”. Hôm ấy lang Thường Ban bấm giờ và dậy đi săn từ canh một, mang súng dài chín gang, lạt dang chín đốt, dây bốt chín thước để trói chân tay con khỉ. Trong đàn, một con khỉ đốm và một con khỉ vàng nói với nhau: “Không biết tao hay mày sẽ ăn đạn đây!”.

Đoàng! Một con rơi xuống rậm có tên là rậm Bu gà (Pu ka). Con khỉ biết bói đàn trước khi chết dặn Thường Ban cách bói. Đến đời lang An đô, nhà vua ở kinh kỳ Kẻ chợ mất thuổng vàng. An Đô bói được. Nhà vua phong tặng  cho An Đô chức Cẩm Vũ hầu, thưởng cho mường Bi nhiều thứ trong đó có một thứ vĩnh cửu là lịch Mường Bi tính theo ngày lui tháng tới so với Âm lịch. Từ đời Cẩm Vũ hầu, nhà lang Cun Bi chuyển xuống trung tâm mường Bi là Chiềng Lầm. Có câu: “Trước Đung Ngau, sau Chiềng Lầm”. Mỗi thầy  (tlươ̭ng) to ở Mường Bi đều có một túm xương đùi gà khô, buộc lại bằng sợi dây gai và treo qua sợi dây với một đũa tre nhỏ để bói. Để bói ngày Khai hạ, người ta đóng một cọc tre để treo túm xương gà cố định. Để thử quẻ bói có hiệu nghiệm không, thầy (tlươ̭ng) cho người nắm lấy một bó đũa bất kỳ và hỏi: “Chẵn hay lẻ”? Túm xương gà đung đưa số lần chẵn là số đũa chẵn và đung đưa số lần lẻ là số đũa lẻ. Sau đó thầy (tlươ̭ng) lần lượt hỏi năm nay trời đất phù hộ có cho được mùa không? Con người có mát mẻ, trâu bò có mạnh khỏe không? Nắng mưa có thuận hòa, nước nôi tưới tắm có thuận tiện không? Túm xương gà rung hết mới mát mẻ, tốt lành, không rung là dự báo có điều không hay. Thầy khấn bói xong, Ậu hóa có trách nhiệm trông coi các mâm thờ cho đến tối mới được lấy mang về. Các thần linh cần ăn uống thong thả, ngâm nga. Mọi người sắp xếp đồ đạc, lại gióng trống ba tiếng một ra về. Đến đây phần lễ đã hoàn thành. Phần hội chỉ tổ chức một số trò chơi dân gian trong phạm vi làng như đánh đuốn, đánh mảng, đu dây, ném còn, kéo co… Sau buổi lễ, người nào  có vai vế, ăn nên làm ra mới được ra đồng làm trước. Trước đó, dù thấy bờ ruộng bị lở cũng không được đào đắp.

Sau những biến động của lịch sử và xã hội, lễ Khai hạ rơi vào quên lãng ngót vài chục năm. Tên Thành Hoàng gần như bị thất truyền. Từ mốc năm 2000, với chủ trương đúng đắn của Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Tân Lạc, lễ Khai hạ được phục hồi. Các thần linh gần như sống lại. Như châu về hợp phố, các bản sắc văn hóa của người Mường ở Mường Bi được tập hợp và tái hiện trong sự giao lưu với các vùng miền một cách hòanh tráng. Miếu thờ được tôn tạo khang trang, hoành tráng. Tại đây diễn ra lễ rước kiệu Quốc mẫu Hoàng Bà (vua Bà) là mẹ của Thánh Tản Viên Ba Vì.

Sau phần lễ, phần hội mở đầu bằng lời thức chiêng (dấl chiêng) và dàn hợp âm 360 chiếc cồng chiêng tượng trưng cho 360 ngày trong năm. Đồng diễn múa kiếm toàn xã được luyện tập công phu. Các trò chơi đánh đuốn, đánh mảng, đu quay, ném còn, kéo co, chò khoeo… hết sức dân dã, xuất phát từ cuộc sống, lại làm cho cuộc sống thêm biết bao đậm đà, ý vị. Dây đồng mảng là một loại dây rừng tạo nên bắp có hạt màu tím biếc. Nguyên cái đẹp của đồng mảng đã hút hồn tuổi thơ. Lại thêm các trò: mủ (dùng tay lăn đồng mảng dưới đất đến sát mục tiêu), xậm ộch (dùng chân lăn), xang xếl (một chân nâng đồng mảng, chân kia nhảy lò cò), bắn tín (đặt đồng mảng trên gối dùng ngón tay quỳ bắn trúng mục tiêu), bắn trên (một chân đứng thẳng, chân kia co vuông góc, dặt đồng mảng lên đùi bắn), bèn bồ (dùng ngón chân đẩy đồng mảng đến đâu thì đứng ở vị trí đó ném trúng đồng mảng đối phương qua vạch. Trò này vừa chơi tập thể, vừa cá nhân, có kẻ thắng người thua lặp đi lặp lại cũng vui hết cả thời con gái. Trò thiên về nữ giới, nó đòi hỏi sự khéo léo, dẻo dai, chính xác, không kém gì trò đánh đuốn thiên về nam giới. Con người trong quá trình lao động nhiêu khi phải trèo đèo, lội suối, vượt  thác, leo cây. Đôi chân Âu Cơ nhiều khi thiếu tầm họat động, con người muốn nối thêm ra cho tạo hóa. Thế là sinh ra cái chò khoeo. Chò khoeo cũng là trò giải trí: Chỉ cần lắp hai ống tre vào hai ngọn tre là tạo nên một đôi chân giả, đi ngất ngưởng rất vui.

Giáo, mác, súng kíp, hỏa mai, cung nỏ… là vũ khí thô sơ nhưng lợi hại để chống lại giặc hai chân và bốn chân bảo vệ xóm làng. Trong đó, dễ chế tạo và tiện dụng ở mọi lúc mọi nơi là nỏ. Thân nỏ làm bằng cây dẻo, nhẹ, chắc, bền để chịu được lực đàn hồi của cung nỏ. Cánh nỏ làm bằng gốc tre đực, đóng vào thân nỏ thật cân lực. Dây nỏ bện bằng sợi gai, đánh sáp bằng lá rừng có nhựa dẻo. Tên nỏ chọn dóng tre thanh nhẹ dễ bay thẳng. Sau đó đến các yếu lĩnh điểm xạ. Mục tiêu cuối cùng là trúng đích. Nhìn vào đầu  nỏ thấy vết xoa đầy lông và tiết chim thú là thấy được chiến tích người dùng nỏ. Việc tổ chức thi đấu thường xuyên hàng năm các môn thể thao như kéo co, đẩy gậy, đấu vật, bóng chuyền, bắn nỏ… giữa các đơn vị xã và cơ quan trong huyện làm cho không khí lễ hội thêm sôi động. Đồng thời những làn điệu dân ca như hát đúm, hát ví, thương rang bộ meẹnh… hòa cùng các loại nhạc cụ dân tộc như sáo, nhị, khèn, ôi… tưởng như bấy lâu đã đắm chìm vào quá khứ, bỗng được khơi dậy và cất lên ngân nga và duy trì đều đặn từ đó đến nay.

Nhưng mọi vấn đề văn hóa đều xuất phát từ cái ăn, cái mặc. Khi đời sống vật chất no đủ, đời sống tinh thần mới được nâng lên. Lúa đầy đồng, lọ đầy hớng, cơm đầy bát, tiếng hát cũng đầy sân, đầy làng. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến các món ẩm thực được các làng, các xã chuẩn bị thi bày vẽ hết sức công phu. Các mâm được Ban giám khảo chấm xếp hạng cao thường là các mâm có các món ngon đặc sắc nhất: Bánh trưng, rượu cần, rượu ngô, sôi đồ gói lá chuối, bánh tình yêu, rau đồ thập cẩm, cá ốt đồ, cá nướng, cá nướng giã với ớt kiệu, ếch hầm cách thủy, ruột don, nộm cua rừng (mô̒l), cá dưa chuô, măng chua thịt gà hạt dổi, chả lá bưởi, nòng nọc hấp trứng như mọc từ trứng lên gọi là món nòng nọc mọc, canh loóng… Các món thường ngày của các nhà, các làng mường nay được tập trung về trong không gian rộng lớn: Khai hạ. Đúng là ngày hội của các món ăn ngon. Du khách thưởng thức để biết mùi vị của xứ Mường. Gần đây có đấu giá các mâm ẩm thực. Khách vui lòng bê cả mâm về.

Lễ Khai hạ được khôi phục và mở rộng đã tròn hai mươi năm, là ngày hội vui lớn của dân Mường. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất tỉnh Hòa Bình. Như thường lệ, số người tham gia rất ổn định, ước tính trên hai vạn người và mỗi năm một tăng cao. Thánh Tản và Thành hoàng linh thiêng nên du khách gần xa tấp nập đến lễ bái cũng như đóng góp công đức. Trẻ già nô nức đến xem cả làng trên xóm dưới. Các loại hàng hóa được bày bán rất chạy, là dịp để các thương nhân kiếm vận may. Có hàng đặt ở nơi cố định do ban tổ chức sắp xếp, có hàng đeo lủng lẳng di động theo người bán đi khắp sân bãi như bắp dao, nỏ, kiếm… Vui nhất là đêm thi người đẹp của các xã để chọn ra người đẹp của huyện, đồng thời biểu diễn văn nghệ có sự tham gia của các tỉnh bạn như Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa…

Mỗi lần Khai hạ là mỗi lần địa phương đúc rút được nhiều kinh nghiệm để lần sau tổ chức tốt hơn. Ấn tượng chung là tốt đẹp, song không phải đã hết những băn khoăn. Có lẽ băn khoăn lớn nhất là vấn đề “đất chật người đông”. Sân bãi rộng 1 ha rưỡi cho hai vạn người đi như nêm cối. Đã có phương án mở rộng sân chơi đến tận xóm Ải cách sân chính 1km nhưng vẫn chưa xuể. Năm 2020 đã có sự sáp nhập hai xã Phong Phú cũ và Địch Giáo cũ thành xã Phong Phú mới. Xã Phong Phú mới có diện tích gấp đôi cũ, có lãnh đạo mới cùng lực lượng mạnh, chắc chắn sẽ có cách tổ chức Khai hạ tốt hơn.

Cái tên Khai hạ có nhiều cách kiến giải khác nhau. Có người nhầm lẫn Khai hạ với Khai xuân vì làm đúng vào thời điểm đầu xuân. Vì chữ hạ trong tiếng Mường có nghĩa là rạ nên có người cho rằng Khai hạ là ra đồng bừa bẻ rạ. Có ý kiến lại cho rằng lễ Khai hạ chính là lễ Xuống đồng (Khuống mùa). Lại  ý kiến nữa cho rằng Khai hạ là hạ mâm cơm trên bàn thờ nhà lang sau tết. Tất cả đều lý thú và cần suy xét, tranh luận. Người Mường Bi có bốn nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp là: Lễ Khai hạ tổ chức vào tháng Giêng Âm lịch (tháng tư lịch mường Bi), lễ Xuống đồng (Khuống muô̒) tổ chức vào tháng 2-3 Âm lịch (tháng tư lịch mường Bi), lễ tát chuôm (ko̭n lâm lê̒) làm vào tháng 6 Âm lịch (tháng 9 lịch mường Bi), lễ rửa lá lúa ( thưở lả lo̭) làm vào tháng 7 Âm lịch (tháng 10 lịch mường Bi). Lễ Xuống đồng (Khuống mùa) xưa tại xã Phong Phú cũng làm tại miếu thờ xóm Lũy. Nghi lễ thờ không đòi hỏi con thú vàng lông, chỉ cần vài bát cơm, vài gói cá bằng lá chuối đồ chín là được. Thầy  (tlươ̭ng) cúng lạy Thành Hoàng. Ậu huyền đón nước từ mương Lò (con mương dẫn nước từ đầu nguồn về cánh đồng mường Bi. Có nước rồi, Cai cả ra đồng cày bừa trước, người dân mới được làm theo. Khi phục dựng lễ Khai hạ năm 2000 sau nhiều chục năm vắng bóng, người ta lồng ghép nghi lễ Xuống đồng (Khuống muô̒) vào đó luôn nên dễ nhầm lẫn khái niệm và cách làm riêng biệt trước kia của hai lễ này. Các làng khác đều có Thành Hoàng riêng, đều làm các nghi lễ như trên theo những quy mô khác nhau. Lễ Khai hạ xưa được tường trình như trên để thấy được ý nghĩ đích thực của nó, tránh nhầm lẫn với các lễ hội khác, nhất là với lễ Xuống đồng (Khuống mùa).

Ông Đinh Văn Vượng, nguyên Bí thư huyện ủy, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện Tân Lạc, một trong những nhà tổ chức lễ hội,  rất am tường về văn hóa cổ truyền Mường Bi cho rằng: Theo các cụ thì Khai hạ là ngày lễ khai thông mọi công việc trong thiên hạ. Một năm cũ đã chính thức qua đi. Một năm mới đã chính thức bắt đầu. Mọi người chính thức bắt tay vào làm công việc của mình. Vua có việc vua, quan có việc quan, lang có việc lang, ậu có việc ậu, dân có việc dân. Người cầm bút chính thức cầm bút. Người cầm cày chính thức cầm cày. Ngày nay cũng thế, sau lễ Khai hạ cán bộ, công chức ngồi vào bàn giấy thì công nông cũng đi vào đồng ruộng, xưởng máy, công nông trường. Đó cũng là cách giải thích có tính thuyết phục nhất.

Lễ Khai hạ ngày nay vừa mang tính truyền thống dân tộc, vừa mang tính hiện đại, vừa có bề rộng lại vừa có bề sâu, không ngừng kế thừa và đổi mới, có sự kết hợp giữa Văn hóa - Thể thao – Du lịch - Kinh tế mới đảm bảo tính bền vững và phát triển.

Bùi Văn Nợi

(Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình)


 
in Quay trở lại
thông báo
Hòa Bình 20 năm một chặn đường
Dự báo thời tiết
Thành phố:

28oC

Độ ẩm: 89%

Tốc độ gió: 9 km/hkm/h

Cập nhật lúc 06:30:00
ngày 2022-07-03