Thăm dò ý kiến
Theo bạn, Trang thông tin điện tử tỉnh ủy Hòa Bình có cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động của tỉnh ủy không?


Mã xác nhận

FE_View_Detail

Tình hình thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 24/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại kinh tế giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 của hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa XII về một số chủ trương chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, năng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Cơ cấu kinh tế tỉnh ta chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 41,14% năm 2016 lên 45,58% năm 2020; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 23,28% năm 2016 xuống 19,98% năm 2020.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2016-2019 đạt 8,44%; dự kiến năm 2020 đạt 4,2%, GRDP bình quân hàng năm giai đoạn 2016-2020 đạt 7,59%. Quy mô và tiềm lực kinh tế tiếp tục tăng lên. GRDP năm 2020 (theo giá hiện hành) ước đạt 54.956 tỉ đồng, gấp 1,49 lần so với năm 2016. GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 ước đạt 63,8 triệu đồng, tăng thêm 19,4 triệu đồng so với năm 2016. Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ tăng; năng suất lao động tăng bình quân 10,5%/năm; vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hơn; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 25%.

Hoạt động xuất khẩu có mức tăng trưởng cao, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, sản phẩm xuất khẩu ngày càng phong phú. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đến năm 2020 ước đạt 1.907,5 triệu USD, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2015. Trong đó, xuất khẩu tăng trưởng bình quân hàng năm ước đạt 29,65%, nhập khẩu bình quân hàng năm ước tăng 27,76%/năm. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm may mặc, điện tử, thấu kính quang học, kim loại và  ván gỗ ép... thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hồng Công, Anh, Hà Lan, Úc, Mexico, Tây Ban Nha, Nga, Ấn Độ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất xuất khẩu.

Thu hút được 17 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký khoảng 275,7 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 45 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký khoảng 670 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 360 triệu USD, bằng 54% tổng vốn đăng ký. Thu hút, quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đạt kết quả tích cực. Thu hút thêm được 09 dự án ODA, nâng số dự án ODA trên địa bàn còn liệu lực là 22 dự án với tổng số vốn là 5.559 tỷ trong đó vốn ODA là 4.526 tỷ đồng.

Về thu hút, huy động nguồn lực, tái cơ cấu đầu tư và cách thức xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư công: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã huy động được trong 5 năm đạt khoảng 80.630 tỷ đồng, bình quân hàng năm đạt 16.126 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư khu vực nhà nước chiếm tỷ lệ khoảng 33%; vốn đầu tư của người dân và DNDD chiếm tỷ lệ khoảng 60%; còn lại khu vực có vốn FDI chiếm khoảng 7%. Kế hoạch vốn đầu tư công đã bố trí thực hiện 479 dự án (không bao gồm các dự án CTMTQG, dự án hoàn trả vốn vay tín dụng, dự án đối ứng ODA, đối ứng NSTW); trong đó bố trí cho 74 dự án đã hoàn thành, 158 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn 2011-2015, 247 dự án khởi công mới trong giai đoạn 2016-2020. Số dự án đã được bố trí vốn hoàn thành là 235 dự án; số dự án chưa hoàn thành, phải chuyển tiếp sang giai đoạn 2021-2025 là 170 dự án. Các dự án được đầu tư đã góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và quốc phòng an ninh, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.

Kết quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp: Tốc độ tăng GRDP của ngành bình quân giai đoạn 2016-2020 ước đạt 4,1%; tốc độ tăng giá trị sản xuất các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản đều tăng nhanh, trung bình đạt trên 5%/năm. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng cây, con đặc sản có giá trị kinh tế cao; năm 2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản lần lượt là 87,5%, 9,5%, 3%, tương ứng năm 2020 là 82,8%, 11,2%, 6,0%; trong nông nghiệp, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 25,1% năm 2015 lên 38% năm 2020. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất canh tác trồng trọt và trên 1 ha mặt nước thủy sản tăng dần hàng năm; đến năm 2020, giá trị thu nhập trung bình trên 1 ha canh tác trồng trọt đạt trung bình 140 triệu đồng/ha/năm; trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt trên 223 triệu đồng/ha.

Kết quả cơ cấu lại khu vực công nghiệp và dịch vụ: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản phẩm ngành công nghiệp - xây dựng bình quân hằng năm giai đoạn 2016-2020 ước đạt 10,17%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14,15%/năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân tăng trên 10,5%/năm. Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp tiếp tục có những chuyển biến tích cực, các ngành có năng lực cạnh tranh được chú trọng phát triển. Giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, chiếm tỷ lệ lớn (54,3%) chủ yếu là do Công ty thủy điện Hòa Bình, tiếp đến là công nghiệp chế biến - chế tạo (chiếm tỷ lệ 44,7%), còn lại là các ngành công nghiệp khác và công nghiệp khai khoáng.

Thực hiện tái cơ cấu và phát triển nhanh ngành dịch vụ theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển đa dạng các sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm có năng lực cạnh tranh. Ngành bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác chiếm tỷ trọng cao và ổn định (14,46%); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm chiếm 10,25%; ngành vận tải, kho bãi duy trì tỷ trọng khoảng 9,24%... Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông, vui chơi giải trí… chiếm tỷ trọng thấp, trong khi các dịch vụ công như hoạt động bảo đảm xã hội bắt buộc; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội chiếm tỷ trọng cao (chiếm gần 30% ngành dịch vụ). Từng bước phát triển dịch vụ du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu lao động. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ngành dịch vụ giai đoạn 2016-2020 đạt 6,21%.

Về thương mại, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân hằng năm tăng 19%, đến năm 2020 ước đạt 37.510 tỷ đồng, gấp 2,41 lần so với năm 2015. Có hơn 1.000 doanh nghiệp và hơn 30 ngàn hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch,... điểm phần trăm trong tốc độc tăng trưởng GRDP ngày càng cao.

Hoạt động xuất khẩu có mức tăng trưởng khá, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, sản phẩm xuất khẩu ngày càng phong phú. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng qua các năm, từ 690,6 triệu USD năm 2016 lên ước đạt 1.907,5 triệu USD vào năm 2020, trong đó, xuất khẩu tăng trưởng bình quân hàng năm ước đạt 29,6%/năm, nhập khẩu tăng trưởng bình quân hàng năm ước tăng 27,76%/năm.

Du lịch là lĩnh vực được tỉnh xác định là ngành trọng điểm, mũi nhọn, ưu tiên phát triển. Kết quả trong 5 năm có khoảng 13,87 triệu lượt khách tham quan, du lịch tại tỉnh, bình quân hàng năm tăng 10,6%, trong đó khách quốc tế khoảng 1,3 triệu lượt người; tổng thu từ du lịch ước đạt 8.373 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 26%/năm. Tuy nhiên, ngành du lịch chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 10% giá trị sản xuất toàn ngành dịch vụ và đóng góp 2,8% GRDP của tỉnh, còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh Hòa Bình.

Dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách phát triển nhanh, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của nhân dân. Số lượng phương tiện đường bộ tăng khá nhanh từ 322.009 phương tiện năm 2015 lên 448.090 phương tiện năm 2020; chất lượng phục vụ, chất lượng các phương tiện tham gia giao thông ngày càng cao, mức lưu chuyển hàng hóa tăng trên 5%/năm

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 và Kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hòa Bình đến năm 2020. Hiện nay, toàn tỉnh Hòa Bình có 12 đô thị, trong đó có một thành phố (đô thị loại III) và 11 thị trấn (đô thị loại V), đang ưu tiên đầu tư nâng cấp 2 thị trấn Mai Châu và Lương Sơn lên đô thị loại IV và thành phố Hòa Bình lên đô thị loại II. Các thị trấn huyện lỵ đều đã lập và điều chỉnh quy hoạch, từng bước được đầu tư nâng cấp. Tuy nhiên, tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh còn tăng chậm, đến nay, tỷ lệ đô thị hóa đạt 25%, thấp hơn rất nhiều so với bình quân chung của cả nước.

Biến động về lao động: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên toàn tỉnh giai đoạn năm 2016-2020 ước tính là 558.565 người, tăng 13.565 người so với giai đoạn trước. Trong đó, lao động nam chiếm 50,02%; lao động nữ chiếm 49,98%; lực lượng lao động ở khu vực thành thị chiếm 11,96%; lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 88,04%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế giai đoạn 2016-2020 ước tính 556.011 người, tăng 7.865 người so với giai đoạn trước, chiếm 64,45% so với dân số toàn tỉnh. Trong đó, lao động nam chiếm 65,46%; lao động nữ chiếm 65,35%; lao động ở khu vực thành thị chiếm 52,73%; lao động ở khu vực nông thôn chiếm 67,60%.

Công tác đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh thường xuyên được quan tâm, do đó chất lượng lao động cũng ngày càng nâng lên. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 56%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 22,64%. Cơ cấu lao động tiếp tục có sự chuyển biến theo hướng tích cực, ước đến năm 2020 tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm còn khoảng 59% tổng lao động xã hội, so với năm 2015 giảm 9%.

Công tác đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước được chú trọng. Trong giai đoạn 2016-2020, đã thực hiện sắp xếp lại các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, đối với cấp tỉnh giảm từ 31 ban xuống còn 03 ban, cấp huyện giảm từ 145 ban xuống còn 11 ban, cấp xã không còn Ban quản lý dự án (trước đây có 365 ban); sắp xếp lại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện đã giảm được 248 đơn vị; thực hiện quy định mới hoặc sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức đối với 22 đơn vị sự nghiệp cấp sở sau khi thành lập mới hoặc sắp xếp, kiện toàn. Thực hiện chủ trương “Sắp xếp thu gọn hợp lý các đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn theo quy định về quy mô dân số, diện tích tự nhiên và giảm số lượng thôn, tổ dân phố”, tỉnh đã ban hành Đề án và thực hiện việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, xóm, tổ dân phố trên địa bàn; qua đó, giảm từ 2.058 xuống còn 1.482 thôn, xóm, tổ dân phố, giảm 576 thôn, xóm, tổ dân phố, tiết kiệm được khoảng 51,7 tỷ đồng/năm kinh phí chi trả phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách, khoán kinh phí hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức đoàn thể ở thôn, xóm, tổ dân phố. Thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Hòa Bình giảm được 59 đơn vị hành chính cấp xã và 01 đơn vị hành chính cấp huyện tiết kiệm được khoảng 266 tỷ đồng/năm kinh phí chi thường xuyên.

Thực hiện tốt công tác quản lý biên chế, quản lý, sử dụng biên chế. Đã phê duyệt Đề án tinh giản biên chế tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2021; tổng số tinh giản của tỉnh giai đoạn 2015-2021 là 3.260 biên chế, tương ứng với 10% cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh. Kết quả tinh giản biên chế từ năm 2015 đến nay, toàn tỉnh đã tinh giản được 1.994 người.

Đổi mới mạnh mẽ quy trình, phương thức tổ chức thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ chủ yếu dựa trên thành tích, kết quả công việc. Năm 2018, đã thực hiện thí điểm thi tuyển lãnh đạo, quản lý cấp Sở của 05 sở, ngành với 06 vị trí, kết quả có 03 cán bộ trúng tuyển được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm. Ngoài ra, có 04 sở, ban, ngành và 04 huyện đã thực hiện thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo cấp phòng và tương đương, kết quả có 09 thí sinh trúng tuyển với 09 vị trí thi tuyển.

Bảo An


in Quay trở lại
Hòa Bình 20 năm một chặn đường
Dự báo thời tiết
Thành phố:

27oC

Độ ẩm: 89%

Tốc độ gió: 8 km/hkm/h

Cập nhật lúc 02:00:00
ngày 2020-09-30