Thăm dò ý kiến
Theo bạn, Trang thông tin điện tử tỉnh ủy Hòa Bình có cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động của tỉnh ủy không?


Mã xác nhận

FE_View_Detail

Kết quả 01 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh
Sau 01 năm thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TU, các cấp ủy, chính quyền, các ban, sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 22-NQ/TU, coi đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Việc tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thực hiện các chính sách dân tộc đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh có cơ hội vươn lên phát triển sản xuất, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước.
 
Các cấp, các ngành đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn phát huy tinh thần đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, các chương trình, dự án về đầu tư, hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn xóm, xã đặc biệt khó khăn; quan tâm phổ biến các quy định pháp luật gắn trực tiếp với cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số như Luật bình đẳng giới, Luật bảo vệ và Phát triển rừng; Luật bảo vệ môi trường, Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật phòng, chống ma túy... Các cơ quan trong tỉnh đã tổ chức hàng trăm lớp tuyên truyền, tập huấn cho trên 5.000 lượt người dân tộc thiểu số về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Ban Dân tộc tỉnh xây dựng 03 mô hình điểm thực hiện Đề án đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc, thiểu số và miền núi. Qua triển khai thực hiện, nhận thức và ý thức tự giác của đồng bào vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều chuyển biến tích cực, tham gia chủ động hơn trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng theo quy định của pháp luật.

Công tác thông tin, truyền thông các nhiệm vụ chính trị được tập trung thực hiện. Thời lượng và chất lượng tin bài chuyên đề dân tộc và miền núi trên Báo, Đài, Cổng thông tin điện tử của tỉnh được tăng cường. Tỉnh đã triển khai Đề án chương trình truyền hình tiếng dân tộc Thái trên sóng phát thanh truyền hình tỉnh. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật và hòa giải cơ sở đã có bước chuyển biến tích cực; tổ chức gần 800 hội nghị tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho trên 50.000 lượt người, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện Đề án dạy và học tiếng dân tộc Mường, năm 2019 tỉnh đã tổ chức phê duyệt, triển khai dạy học, cấp chứng chỉ tiếng dân tộc Mường cho 552 cán bộ, công chức, viên chức.

Thực hiện sự phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh, công tác giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn, các thôn xóm đặc biệt khó khăn đã được các ban, sở, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, địa phương quan tâm thực hiện có hiệu quả, bằng nhiều hình thức như hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của  Nhà nước; tổ chức các lớp tập huấn cung cấp kiến thức mọi mặt cho người dân; thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, học sinh nghèo vượt khó, tặng cơ sở vật chất, thiết bị làm việc bằng sự huy động các nguồn lực, vận động ủng hộ từ cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trị giá hàng trăm triệu đồng.

Việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, kiên cố hóa công trình giao thông, hệ thống điện lưới, công trình thủy điện ở vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được các cấp các ngành quan tâm thực hiện bằng những việc làm cụ thể, đã nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới, cứng hóa được trên 4 nghìn km đường trục xã, liên xã, trục thôn, xóm, đường ngõ xóm, bản và nội đồng, nâng tổng số đường giao thông nông thôn cứng hóa lên hơn 6,1 nghìn km; xây mới và sửa chữa nâng cấp, kiên cố hoá được hơn 1,7 nghìn km kênh mương nội đồng từng bước đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu và phục vụ sản xuất. Nâng cấp, sửa chữa, xây mới trên 500 công trình trường học, 700 công trình cơ sở vật chất văn hóa; gần 60 công trình chợ nông thôn; 80 công trình trạm y tế xã.

Các thiết chế văn hóa, giá trị văn hóa dân tộc được quan tâm bảo tồn và phát huy. Tỉnh đã hoàn thành hồ sơ di săn văn hóa phi vật thể Mo Mường và nghệ thuật Chiêng Mường, ban hành Bộ chữ dân tộc Mường, Đề án dạy và học tiếng Mường giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn 2035. Hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại ngày càng phát triển cơ bản đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, bao tiêu hàng hóa của đồng bào dân tộc trong tỉnh. Hệ thống thông tin truyền thông cơ sở được củng cố. Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có hạ tầng viễn thông băng thông rộng cố định, đảm bảo cho người dân sử dụng các dịch vụ trực tuyến thuận lợi.

Hằng năm, vào ngày 18/11, 100% các xóm, bản, khu dân cư trong toàn tỉnh đều tổ chức "Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc". Qua đó đã khơi dậy truyền thống yêu nước, tăng cường tình đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc trong tỉnh, góp phần thi đua thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quy chế, quy định của địa phương.

Phong trào văn nghệ, thể thao quần chúng ở vùng dân tộc và miền núi trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh, thu hút được đông đảo nhân dân hưởng ứng tham gia. Các môn thi đấu thể thao dân tộc được khôi phục. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được triển khai hiệu quả. Nhiều mô hình khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu... đã trở thành phong trào rộng khắp, đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả cao hơn, hài hòa hơn về kinh tế, xã hội môi trường, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng nông thôn mới  bền vững. Các loại hình du lịch ngày càng được phát triển và gắn với các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, găn với cộng đồng.

Các huyện, thành phố đã triển khai đầy đủ các chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số như chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư; chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Kết quả năm 2018, vay tín dụng ưu đãi đã thực hiện được 12,5 tỷ đồng, năm 2019 là 8 tỷ đồng; hỗ trợ nước sinh hoạt năm 2019 là 2,8 tỷ đồng.Việc ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng chuỗi liên kết sản phẩm, hỗ trợ sản xuất đã mang lại hiệu quả tích cực. Các địa phương đã thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; triển khai Đề án chương trình mỗi xã một sản phẩm. Tỉnh đã hình thành 31 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, cung ứng hơn 10 triệu tem truy suất nguồn gốc; phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Góp phần đảm bảo nông sản an toàn theo chuỗi giá trị, làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm thực hiện. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp được nâng lên. Công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số được thực hiện đúng quy định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia ở vị trí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh và huyện là 1.341/3.475 người, chiếm 38,58%; cán bộ  là người dân tộc thiểu số diện Ban Thường vụ quản lý có 163/322 đồng chí chiếm 50,62%. Cán bộ người dân tộc thiểu số được bổ nhiệm, điều chuyển, giới thiệu ứng cử giữ các chức vụ lãnh đạo diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là 51/62 đồng chí chiếm 82,25%. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số các cấp được đào tạo, bố trí, sử dụng hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên người dân tộc thiểu số được thực hiện đúng quy trình, hướng dẫn, Điều lệ Đảng. Trong năm 2019 toàn tỉnh kết nạp được 705/1.091 đảng viên đạt tỷ lệ 64,6% đảng viên mới là người dân tộc thiểu số. Tổng số đảng viên là người dân tộc thiểu số hiện nay là 39.959/66.296 đảng viên đạt tỷ lệ 60,27% đảng viên.

Công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề cho người dân tộc thiểu số được cấp ủy, chính quyền các cấp coi trọng. Các chế độ chính sách đối với giáo viên và học sinh được đảm bảo đầy đủ, kịp thời. Hệ thống các trường dân tộc nội trú, trường dân tộc bán trú được mở rộng về quy mô, nâng cấp về cơ sở vật chất. Các huyện có nhiều đồng bào dân tộc đã có hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập có chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có 168/453 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó Mầm non có 63 trường đạt chuẩn, Tiểu học 42 trường đạt chuẩn; Trung học cơ sở 27 trường đạt chuẩn; Trường Tiểu học và Trung học cơ sở có 36 trường đạt chuẩn. Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99% trở lên; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trên 86%, số học sinh theo học đại học, cao đẳng ngày càng nhiều. Toàn tỉnh có 13 Trưởng phổ thông Dân tộc nội trú, 13 Trường Phổ thông Dân tộc bán trú, đảm bảo chỉ tiêu 10% số học sinh dân tộc thiểu số trong tỉnh được học trong các Trường Phổ thông Dân tộc nội trú, bán trú. Mô hình các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú được phát triển trong toàn tỉnh tạo điều kiện cho con em là người dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được học tập, nâng cao trình độ.

Công tác đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn là người dân tộc có nhiều đổi mới, gắn việc rà soát, xác định danh mục nghề đào tạo với làm tốt công tác định hướng, tư vấn nghề cho người lao động nông thôn trong việc lựa chọn nghề, tham gia học nghề và giải quyết việc làm sau học nghề. Cơ cấu lao động tiếp tục có sự chuyên biến theo hướng tích cực, giảm dần lao động trong ngành nông nghiệp, tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp còn khoảng 60%, tỷ lệ lao động thất nghiệp của lao động ở khu vực thành thị còn dưới 3%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53,3%, số lao động học xong có việc làm đạt 80%.

Công tác quản lý và thẩm định đánh giá tác động đến môi trường sinh thái, cảnh quan tự nhiên trước khi triển khai các dự án phát triển ở vùng dân tộc thiểu số được chú trọng thực hiện. Công tác bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng trồng sản xuất được phát huy hiệu quả gắn với thực hiện tiêu chí số 17 trong Chương trình xây dựng nông thôn mới và việc giải quyết khó khăn về đất ở, đất sản xuất, tạo điều kiện sinh kế ổn định cho đồng bào.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, khoảng sản trên địa bàn được quan tâm. Chính quyền các cấp đã bố trí lực lượng nắm chắc tình hình, phát hiện, xử lý nghiêm những trường họp vi phạm pháp luật, khai thác tài nguyên trái phép. Việc giải quyết khó khăn về đất sản xuất, đất ở cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng thiên tai được các cấp ủy, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình; chỉ đạo giải quyết tranh chấp địa giới hành chính, xâm canh, xâm cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mai Châu, Yên Thủy, Lạc Thủy...kịp thời bố trí nhân dân bị ảnh hưởng thiên tai, lũ bảo đến nơi tái định cư, đảm bảo an toàn, ổn định đời sống của nhân dân.

Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Chỉ đạo các cấp, các ngành, các xã, thị trấn vùng đồng bào dân tộc thiểu số tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phổ biến giáo dục pháp luật, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số nâng cao ý thức cảnh giác, phòng chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng chống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, phòng chống buôn bán người…gắn công tác tuyên truyền với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, xây  dựng các mô hình tự quản về an ninh trật tự20. Đến nay toàn tỉnh đã có 05 loại mô hình tự quản về an ninh trật tự với tổng số 105 mô hình tiêu biểu, có 8.387 đơn vị thành viên góp phần giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở.

Công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc, miền núi tiếp tục được thực hiện có hiệu quả; tỉnh đã xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, không để sảy ra đột xuất, bất ngờ, “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội vùng dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo. Lực lượng dân quân tự vệ được duy trì, củng cố, tham gia huấn luyện, sẵn sàng cơ động, chiến đấu, bảo đảm nội dung, thời gian quy định.

Bảo An


in Quay trở lại
thông báo
Hòa Bình 20 năm một chặn đường
Dự báo thời tiết
Thành phố:

27oC

Độ ẩm: 89%

Tốc độ gió: 13 km/hkm/h

Cập nhật lúc 13:00:00
ngày 2020-08-06