Thăm dò ý kiến
Theo bạn, Trang thông tin điện tử tỉnh ủy Hòa Bình có cung cấp đầy đủ thông tin hoạt động của tỉnh ủy không?


Mã xác nhận

FE_View_Detail

Phát huy nguồn lợi tự nhiên, tập trung phát triển nuôi cá lồng vùng hồ thủy điện
Ngày 13/6/2014, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình ban hành Nghị quyết số 12/NQ-TU về phát triển nuôi cá lồng bè vùng hồ thủy điện Hòa Bình giai đoạn 2014 - 2020. Sau 5 năm thực hiện, các chỉ tiêu cơ bản của NQ đều đạt và vượt mức đề ra.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cùng đoàn công tác của tỉnh thăm mô hình nuôi cá lồng của Doanh nghiệp trên vùng hồ thủy điện

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cùng đoàn công tác của tỉnh thăm mô hình nuôi cá lồng của Doanh nghiệp trên vùng hồ thủy điện

Sau khi BTV Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 10/2015/QĐ-UBND ngày 27/4/2015 Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi cá lồng vùng hồ thủy điện Hòa Bình giai đoạn 2015 - 2020. Chính sách hỗ trợ cho các cơ sở (hộ, nhóm hộ, hợp tác xã, trang trại) nuôi thủy sản bằng lồng bè có quy mô 50m3 trở lên thuộc vùng quy hoạch nuôi thủy sản tập trung được UBND tỉnh phê duyệt, được hỗ trợ một lần là 50% chi phí đầu tư cho một lồng nuôi với mức hỗ trợ 25 triệu đồng, tối đa không quá 80 triệu đông/hộ/năm.

Từ khi Nghị quyết và chính sách hỗ trợ được ban hành đã khuyến khích phong trào nuôi cá lồng trên vùng hồ phát triển khá nhanh, số lượng lồng cá nuôi được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Đa số các lồng nuôi cá hiện nay đều làm theo công nghệ mới, lồng lưới khung sắt với thể tích đạt 70 - 100m3/lồng đã thay thế dần các lồng bương tre. Hộ tham gia nuôi trồng đáp ứng yêu cầu quy chuẩn kỹ thuật, quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Đối tượng nuôi có giá trị cao như: cá Chiên, cá Lăng, cá Bỗng, cá Trắm đen, cá Rô phi, cá Tầm, cá Lóc, cá Vược... được phát triển mạnh. Đến thời điểm hiện tại, có 4.250 lồng nuôi, tăng 1.933 lồng so với năm 2015; đã vượt 750 lồng so với mục tiêu Nghị quyết đến nằm 2020. Trong đó, số lồng nuôi được hỗ trợ thèo chính sách từ Nghị quyết là 2.602 lồng (chiếm 56,9% số lồng trên hồ thủy điện). Thu nhập bình quân 1 lồng nuôi 50m3 từ 50-70 triệu đồng/năm, tương đương giá trị thu được của 0,5ha nuôi ao nước tĩnh; giá trị sản xuất thu được trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản năm 2018 đạt 197 triệu đồng, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2013 (77,42 triệu đồng). Phát triển nuôi cá lồng bè đã tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho trên 5.000 lao động, vượt 2,2 nghìn lao động so với mục tiêu NQ.

Thực hiện liên doanh, liên kết trong tiêu thụ sản phẩm, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 35 doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, trang trại hộ gia đình đầu tư nuôi thầm canh với quy mô lớn (chiếm 60% tổng số lồng nuôi và chiếm 70% tổng sản lượng thủy sản cung ứng ra thị trường trong và ngoài tỉnh). Có 02 doanh nghiệp đầu tư nuôi hơn 200 lồng nuôi thèo công nghệ tiên tiến. Đối tượng nuôi đa số là các loài cá đặc sản, cho chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.

Hiện có 41 cơ sở nuôi trên 20 lồng, 2 cơ sở nuôi trên 100 lồng. 7 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đã ký kết liên doanh với các hộ dân nuôi cá lồng hợp quy chuẩn VietGap cung cấp trên 2 nghìn tấn các thương phẩm/năm ra thị trường. Có 3 chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ cá sông Đà tiêu thụ tại Hà Nội, tương ứng khoảng 500 lồng nuôi.

Nhờ phát triển tập trung, nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao được phát triển mạnh, sản phẩm cá, tôm sông Đà được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa dùng. Nhãn hiệu cá, tôm sông Đà Hòa Bình đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận là điều kiện phát triển sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản vùng hồ thủy điện Sông Đà còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh; việc đưa các giống cá có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao vào sản xuất chưa nhiều. Hình thức, quy mô, phạm vi liên kết trong nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa và thiếu bền vững; số doanh nghiệp tham gia đầu tư lớn vào nuôi cá tại vùng hồ thủy điện còn thấp, chưa có cơ sở chế biến tại vùng nguyên liệu.

Nhìn chung, tới nay việc thực hiện NQ đã đạt được các chỉ tiêu cơ bản về số lượng, song chỉ tiêu về chất lượng như số lồng cá được liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị còn thấp so với mục tiêu đề ra. Nguyên nhân chủ yếu do thực hiện các chính sách hỗ trợ trong 4 năm vừa qua mới tập trung chính sách hỗ trợ sau đầu tư cho các đối tượng hưởng lợi mà chưa chú trọng đến chính sách đầu tư như: đào tạo, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng nhãn hiệu, xúc tiến thương mại, chứng nhận sản phẩm an toàn, cải tiến quy trình....

Thời gian tới, cần phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là tại địa phương, cơ sở, điều này có ý nghĩa quyết định đến việc đưa Nghị quyết đến được đối tượng hưởng lợi một cách kịp thời, đúng quy định, minh bạch và hiệu quả. Cần có biện pháp khai thác bền vững lợi thế về diện tích mặt nước vùng hồ thủy điện, chất lượng nước, nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có. Đồng thời đảm bảo và giữ vững nguyên tắc khai thác mặt nước không làm ảnh hưởng đến chức năng hồ chứa thủy điện, đảm bảo môi trường, cảnh quan và kết hợp phát triển du lịch sinh thái, làng nghề nuôi cá.

Lê Thùy (CTTĐT)


in Quay trở lại
Hòa Bình 20 năm một chặn đường
Dự báo thời tiết
Thành phố:

34oC

Độ ẩm: 67%

Tốc độ gió: 13 km/hkm/h

Cập nhật lúc 19:30:00
ngày 2019-07-19